TIẾNG ANH HỌC THUẬT: XÓA BỎ KHOẢNG CÁCH CỦA HỌC SINH VIỆT NAM VÀ HỌC SINH THẾ THỚI 

 

 

 

PHẦN 1: ĐIỀU GÌ THAY ĐỔI VẬN MỆNH SINGAPORE?

 

1. Quan điểm về Tiếng Anh Chuẩn Mực của Lý Quang Diệu

Câu chuyện về sự vươn mình của Singapore từ một làng chài nghèo trở thành Quốc Gia Hạng Nhất và con rồng của Châu Á, luôn là một minh chứng được nhắc đến trong các diễn đàn về cải cách giáo dục, đặc biệt là về quan điểm của “người cha lập quốc” Lý Quang Diệu khi ông quyết tâm đưa tiếng Anh chuẩn Anh (British English) làm ngôn ngữ chính thức trong trường học, hay nói cách khác ông theo đuổi việc đầu tư Tiếng Anh Học Thuật (Academic English) cho người dân của mình. Trong hồi ký của ông, Lý Quang Diệu cho rằng chính hành trang Tiếng Anh chuẩn mực, hay Tiếng Anh không “lơ lớ”, không pha tạp với tiếng Quan Thoại như nhiều người khác lúc bấy giờ, đã tạo nên sự khác biệt của ông. Tiếng Anh chuẩn đã giúp ông có tấm vé vào trường Đại Học danh tiếng Cambridge, giành bằng tốt nghiệp loại ưu, theo đuổi nghề luật sư tại hãng luật nổi tiếng và gặt hái thành công khi ông theo con đường chính trị.

 

Nhiều bài báo đã cho rằng, “Chính vì sở hữu Tiếng Anh Chuẩn này đã góp phần tạo nên hình ảnh một Lý Quang Diệu rất nổi bật trong lòng người Singapore. Cho tới khi ông qua đời, người dân ở đảo quốc này vẫn lưu giữ hình ảnh Lý Quang Diệu như một người đàn ông táo bạo, quyết đoán và thẳng thắn, thể hiện qua những bài phát biểu đầy tâm huyết, được nói bằng thứ Tiếng Anh chuẩn trước công chúng.”

 

“English standards must be raised” – đưa việc sử dụng Tiếng Anh của người Singapore lên một chuẩn mực cao hơn, từ việc lồng ghép học Tiếng Anh qua những môn học thường thức trên ghế nhà trường như Toán, Khoa Học, Xã Hội Học… là điều mà Lý Quang Diệu đã thực hiện để tạo nên lợi thế cạnh tranh của người dân Singapore. Và quả nhiên, song song với nền kinh tế phát triển vượt bậc, người dân Singapore có cơ hội cao hơn hẳn khi ứng tuyển và làm việc tại các thị trường khó tính như Mỹ, Anh và Úc. Thu nhập bình quân đầu người của Singapore luôn nằm trong top các nước cao nhất thế giới.

 

 

 

 

Như vậy, việc giảng dạy các môn học cơ bản bằng Tiếng Anh trong nhà trường, hay nói cách khác là việc đầu tư cho Tiếng Anh Học Thuật, đầu tư cho Tiếng Anh chuẩn mực không chỉ tạo nên thành công cho một cá nhân, mà “tạo ra thành công cho cả một dân tộc”. Chúng ta có thể thấy, Singapore là một đất nước với diện tích nhỏ bé và số lượng dân cư chỉ hơn 5 triệu dân nhưng nơi đây đã trở thành một trong những trung tâm thương mại và tài chính lớn nhất thế giới.

 

Từ bài học của Singapore, chúng ta có thể thấy các nước láng giềng như Malaysia, Phillipines, Ấn Độ… đã dần đưa Tiếng Anh vào môi trường học thuật từ bậc tiểu học để trẻ em của họ có thể tư duy và sử dụng Tiếng Anh không khác gì người bản xứ.

 

2. Chỉ số Thành thạo Anh Ngữ của người Việt Nam.

Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ phổ biến trên thế giới và chắc hẳn sẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với xu hướng toàn cầu hóa (globalzation) và công dân toàn cầu (global citizen) trong tương lai. Để bắt kịp tốc độ này, việc trau dồi tiếng Anh của trẻ em Việt Nam đã không còn là sự cần thiết nữa, mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc.

 

Các bậc cha mẹ có xu hướng không tiếc tiền đầu tư vào việc Tiếng Anh cho con, và đầu tư từ rất sớm. Theo khảo sát, chi phí cho việc học tiếng Anh trung bình tại các trung tâm như Apolo, ILA, I Can Read... trong 1 tháng dao động từ 3 đến 5 triệu. Như vậy, trung bình 1 năm ba mẹ sẽ đầu tư khoảng hơn 45 triệu chỉ dành riêng cho con học Tiếng Anh. Con số 40 triệu này tưởng chừng như đơn giản nhưng nếu duy trì trong suốt 12 năm, kể từ khi con 6 tuổi cho đến 18 tuổi lại là một khoản chi phí không hề nhỏ. Hơn thế nữa, người Việt cũng dành rất nhiều thời gian cho việc học ngoại ngữ từ trong trường học đến các lớp học thêm ngoài giờ. Và câu hỏi đặt ra là, chúng ta có sử dụng tốt Tiếng Anh khi đầu tư nhiều thời gian và tiền bạc như thế?

 

 

 

 

EF – một tổ chức giáo dục lớn nhất thế giới đã tiến hành khảo sát và công bố bảng đánh giá chỉ số thành thạo Anh ngữ của các quốc gia mà Tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ, chỉ số này được gọi tắt là EPI (English Proficiency Index). Từ năm 2011 đến năm 2017, trình độ thông thạo của Việt Nam chỉ đạt cao nhất ở mức Trung Bình với điểm số là 53.43. Trong khi đó, Malaysia là 61.07, được đánh giá ở mức Cao, Singapore là 66.03, đạt hạng mức Rất Cao. Theo nghiên cứu này, người học tiếng Anh đạt mức Trung Bình chỉ có thể tham gia vào các cuộc họp trong lĩnh vực chuyên môn của mình, hiểu lời bài hát, viết email về các chủ đề quen thuộc mà chưa thể thuyết trình tại nơi làm việc hoặc nêu quan điểm cá nhân về các vấn đề thời sự, chưa thể đọc hiểu một tờ báo, văn bản cao cấp hoặc các báo cáo chuyên ngành, chưa thể đàm phán hợp đồng với người nói tiếng Anh bản xứ hoặc sử dụng ngôn ngữ có kèm sắc thái trong nhiều tình huống xã hội.

 

3. Chúng ta đang tập trung quá nhiều vào việc rèn luyện Tiếng Anh Giao Tiếp

 

Khi nhắc đến tiếng Anh, hầu hết mọi người đều rất quen thuộc với cụm từ “tiếng Anh giao tiếp” và nhiều ý kiến cho rằng, giỏi tiếng Anh là nói chuyện được với người nước ngoài, trò chuyện bằng tiếng Anh hay như người bản xứ. Do đó, trẻ em được định hướng tập trung vào việc nghe nói, giao tiếp mà hoàn toàn không để tâm đến việc sử dụng tiếng Anh ở một tiêu chuẩn cao hơn, như là tiếng Anh học thuật. Mặc khác, có nhiều ý kiến cho rằng tiếng Anh học thuật chỉ cần học một vài khóa và kế thừa từ tiếng Anh giao tiếp là sẽ thông thạo được, là có thể tham gia hội nghị, các cuộc họp cấp cao hoặc đàm phán, thỏa thuận thật chuyên nghiệp với người bản xứ. Những suy nghĩ, tâm lý này có phải là một trong những lí do cho con số trên bảng đánh giá EF về EPI?

 

 

 

 

Trên thực tế, tiếng Anh học thuật vẫn luôn là rào cản lớn nhất của du học sinh Việt. Vốn từ vựng thông thường hoặc những câu giao tiếp đơn giản không đủ để các bạn thể hiện mình ở một môi trường quốc tế khác hoàn toàn so với Việt Nam. Mặc dù học sinh Việt Nam được đánh giá cao về độ nhạy bén với các môn khoa học, nghệ thuật cũng như sự kiên trì, tìm tòi học hỏi, du học sinh Việt vẫn gặp khó khăn khi thuyết trình, không đủ tự tin và kiến thức ngoại ngữ để bảo vệ quan điểm của chính mình trong các buổi thảo luận nhóm và càng không thể hoàn thành những bài luận với nội dung học thuật chuyên sâu.

 

Nếu nhìn xa hơn, trong hàng triệu học sinh Châu Á, nơi Tiếng Anh không phải ngôn ngữ mẹ đẻ, cùng đang theo đuổi chinh phục ngoại ngữ để tăng tạo lợi thế cho bản thân trong tương lai, học sinh Việt Nam phải làm sao để ngang bằng với học sinh thế giới? Câu trả lời là: tiêu chuẩn sử dụng Tiếng Anh của chúng ta nhất định sẽ không ngừng ở việc giao tiếp thông thường.

 

Đón đọc phần 2:

PHẦN 2: TIẾNG ANH HỌC THUẬT - ĐÂU CHỈ DÀNH RIÊNG CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM. (Thật vậy, có rất nhiều minh chứng học sinh hệ công lập đã học, đã thi và đạt được các chứng chỉ học thuật Quốc Tế, phá bỏ rào cản của ngôn ngữ, tự tạo lợi thế định vị bản thân trong tương lai, các bạn ấy đã học từ nguồn nào?...)

Lưu ý: Quý phụ huynh và học sinh quan tâm Phần 2 có thể inbox địa chỉ email, nội dung phần 2 sẽ được gửi trực tiếp vào địa chỉ email cung cấp